|
|
| |
|
Bán Hàng |
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
| |
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu |
|
|
A – Giống và sự di truyền
1- Hạt giống
Hầu hết các cây tinh dầu đều trồng bằng hạt, ngoại trừ một số cây được
trồng bằng căn cành, chiết cành hoặc cấy mô vì nó không sản xuất ra hạt
giống (cây bạc hà, cây ngải giấm – tarragon).
Có hạt nảy mầm rất dễ dàng khi nó rụng xuống đất như hạt cỏ xạ
hương (thyme – Thymus vulgare) nhưng cũng có loại nảy mầm rất khó khăn
như trường hợp cây hương thảo (rosemary – Rosmarinus officinalis).
Khi gieo trồng bằng hạt, để đạt hiệu suất nảy mầm cao cho các loại
hạt cần phải khảo sát điều kiện nhiệt độ. Thí dụ, húng quế (Ocimum
basilicum) được trồng tại Ấn Độ, nảy mầm nhanh và đều ở nhiệt độ ban
ngày từ 24*C đến 30*C, đạt 60% sự nảy mầm sau 2 ngày ở 36*C so với 12
ngày ở 15*C. Origanum vulgare ở vùng Địa Trung Hải có sự nảy mầm thích
hợp ở nhiệt độ cao hơn, đứng lại ở 36*C và đạt gần 40% ở 15*C. Tổng
quát, ngay dưới những điều kiện tối ưu, sự nảy mầm của hột cây tinh dầu
tương đối chậm hơn cây lương thực (từ 7 đến 8 ngày).
2 – Di truyền Sự nghiên cứu về di truyền trên những cây tinh
dầu bắt đầu được sự chú ý đến từ những năm 1920 khi các nhà hóa học
nhận thấy tinh dầu là một nguồn cung cấp rất lớn các hợp chất perten và
phenilprropen.
Người ta tìm cách thông qua việc sử dụng những kết quả về di
truyền học để có một loài cây tinh dầu mới có thành phần hóa học như ý.
Đầu tiên người ta đã nghĩ đến sự lai giống trong nông nghiệp (ghép
cây, thụ phấn .. ) để làm thay đổi thành phần hóa học, cũng như hàm
lượng tinh dầu của các cây đời F1. Hiện nay với những tiến bộ trong
công nghệ sinh học người ta có thể cung cấp các giống cây tinh dầu điều
khiển được thành phần hóa học và hàm lượng tinh dầu thông qua con đường
nuôi cấy mô.
Từ khi phương pháp sắc ký khí trở thành nền tảng cho việc phân
tích thành phần hóa học của tinh dầu. đã có nhiều bài cáo về vấn đề này
được công bố.
Về thành phần hóa học, qua sự lai tạo nhiều cây ở thế hệ F1, F2,
F3…, người ta đã có được một loại tinh dầu có thành phần hóa học đạt
yêu cầu đề ra. Việc này phải được bắt đầu từ những cây mà thành phàn
hóa học của nó được xác định rõ ràng, được xếp loại theo hóa học
(chemotype) vì có chứa những gen trội chỉ tạo ra laọi tinh dầu trong đó
cấu phần chính được xác định rõ. Vì có sưu tập được những cây này người
ta mới có thể tiến hành lai tạo thành công. Qua việc sự xác định di
truyền trong cây tinh dầu, người ta cũng xác định được các con đường
sinh tổng hợp một số các hợp chất trong tinh dầu, vì khi thay đổi sự di
truyền các đường sinh tổng hợp cũng thay đổi theo. Đó chính là nguyên
nhân sâu xa của sự thay đổi về thành phần hóa học.
Sự phân loại (taxonomy) cây tinh dầu có mang một gen trội có thể
sựa vào hình thái học (morphology) của cây, vị trí nơi quần thể
(population) cây mọc.
Độ thừa hưởng (heribitality), ký hiệu là H2, tính bằng %, của một
tinh dầu hay một cấu phần được suy ra từ sự so sánh với thế hệ kế tiếp.
Những thí nghiệm và kết quả thu được cho đến hiện nay cho thấy
rằng có thể giải thích được cơ sở về gen của sự sinh tổng hợp các cấu
phàn trong tinh dầu bởi sự kết hợp khảo sát gen và sự phân tích tinh
dầu.
Trên thực tế, một số thứ (var.) của các gióng Mentha, Melissa,
Thymus, Lavandula, Achillea, Chaomomila đã được sản xuất rộng rãi và
đăng ký bằng sáng chế.
Trong tương lại, thị trường về cây tinh dầu sẽ quan tâm đến những
cây cung cấp tinh dầu hầu như chỉ chứa chủ yếu một cấu phần, là kết quả
của những tiến bộ về di truyền học về thứ.
Việc nghiên cứu về ảnh hưởng của di truyền trên thành phần hóa học
và hàm vi lượng của tinh dầu ở trong nước ta hiện chưa được thực hiện.
B – Đất đai, phân bón
1 – Đất đai
Nơi trồng, nơi mọc của cây tinh dầu có ảnh hưởng rất nhiều đến thành phần hóa học và hàm lượng tinh dầu .
Thí dụ một số cây thuộc họ Dipterocarpaceae (Dipterocarpus,
Aníoptera, Hopea, Shorea, Vatica … ), hàm lượng tinh dầu thu từ nhựa
dầu và thành phần bách phân của một số cấu phần, mặc dù cùng là của một
loại cây nhưng mọc ở các địa điểm khác nhau trong vùng miền Đông Nam
Bộ, đã cho kết quả khác nhau.
Đối với tinh dầu vỏ các loại trái có múi như tắc, chanh, bưởi,
cam.. thành phần bách phân limonen và hàm lượng tinh dầu thay đổi rõi
theo nơi trồng.
Tương tự, tinh dầu hoa huệ trồng ở Đồng Bằng sông Cửu Long và hoa
huệ trồng trên vùng cao nguyên Lâm Viên cũng có những khác biệt rõ rệt
về thành phần hóa học và hàm lượng cô kết, tinh dâu tuyệt đối.
Tóm lại, khi khảo sát tinh dầu của một loài thực vậtnào, chúng ta
phải luôn luôn chú ý đến nơi trồng, nơi mọc của chúng. Do đó, ngoài
việc ghi nhân về địa phương, đôi khi còn phải chú ý đến địa thế đất,
thành phần đất, nơi thu hái chúng.
2 – Phân bón Phân bón rất cần thiết cho cây cối nói chung
và cây tinh dầu nói riêng vì các chất dinh dưỡng cho cây trong đất
trong quá trình biến dưỡng đã chuyển thành sinh khối của cây. Do đó
phải bổ sung trở lại vào đất những hóa chất cần thiết.
Phân bón chủ yếu là phân đạm. Khi bón phân đạm, chất lượng của cây sẽ
tăng lên, thí dụ như tăng tính nhậy cảm với côn trùng chống lại bệnh
tật và giúp đỡ những chuyển hóa phức tạp trong cây, như kéo dài thêm
thời gian sinh trưởng, tăng chiều cao, số cành, số lá, nói chung là làm
tăng sinh khối của cây.
Thí dụ, khi khảo sát thìa là trồng ở miền Nam Phần Lan (1987),
người ta nhận thấy lượng sinh khối tươi tăng theo lượng phân đạm theo
một phương trình bậc hai.
Ngòai phosphor, kalium người ta còn bổ sung thêm một số nguyên tố khác với một tỉ lệ vi lượng để bảo vệ cây.
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hương của phân bón trên sinh khối của cây từ đó đưa đến kết quả của hàm lượng tinh dầu.
Các kết quả nghiên cứu cũng tương tự đối với cây húng quế. Thí dụ
với 3 loài cây húng quế, hai loài cho kết quả tương tự, còn một loài
cho thấy có sự giảm hàm lượng tinh dầu khi gia tăng sử dụng phân bón.
Alder và cộng sự (1989) kết luận rằng hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu chịu ảnh hưởng của lượng phân đạm sử dụng.
Tùy theo loại cây và nơi trồng, lượng phân đạm có thể dùng đến
200kg/hecta để hiệu suất tinh dầu đạt cực đại. Thí dụ bạc hà trồng tại
Tasmania có thể được thu hái hai lần trong một mùa.
Ở nước ta các công trình nghiên cứu vấn đề này còn rất giới hạn.
C – Môi trường
1 – Thời tiết
Thời tiết hàng tháng trong năm có ảnh hưởng rất qua trọng đến chất
lượng và hàm lượng tinh dầu, nhất là trên các cây có đời sống ngắn.
Thí dụ, khảo sát trên cây húng hương mùa hè (Satureja hortensis), họ
Hoa môi, cho tinh dầu loại Scotland hàng năm. Từ cây non sau khi trồng
vào giữa tháng năm, vận tốc tạo sinh khối tăng dần cho đến khi có phát
hoa, sau đó giữ nguyên độ tăng trưởng cho đến khi đặt được lượng sinh
khối cực đại vào cuối tháng Tám, trước khi bắt đầu già. Hàm lượng tinh
dầu tăng vọt lên từ lúc bắt đầu ra hoa và giảm nhanh khi cây già.
Tổng quát, với các cây tinh dầu mà nguyên liệu cung cấp tinh dầu
là phần trên mặt đất thì thời điểm thu hái tốt nhất là khi những hoa
đầu tiên trên phát hoa bắt đầu nở.
Thành phần hóa học cũng bắt đầu thay đổi tùy theo thời tiết của mỗi năm.
Lấy thí dụ cũng trên Satureja hortensis trồng tại Scotland (được
khảo sát trong ba năm 1984, 1985, 1986). Hàm lượng carvacrol,
y-terpinen, p-cimen trong tinh dầu mỗi năm mỗi thay đổi (tiêu chuẩn
quốc tế về hàm lượng carvacrol trong tinh dầu phải từ 20 – 57%).
Sự khảo sát dựa trên việc theo dõi thành phần hóa học từ lức gieo
hạt cho đến thời kỳ ra hoa trong ba năm liên tiếp. kết quả cho thấy
thời tiết của mỗi năm có ảnh hưởng rất rõ trên thành phần bách phân của
cấu phần chính trong cây rau húng này. Điều này có nghĩa là nếu có điều
kiện nên theo dõi thành phần hóa học của tinh dầu hàng năm đối với
những cây tinh dầu có đời sống ngắn.
2 – Ánh sáng Thí nghiệm của hay và Kirby (1991)cho thất rằng
vận tốc phát triển cuẩ hầu hết các cây tinh dầu được kiểm soát bởi sự
kết hợp giữa nhiệt độ và độ dài của ban ngày.
Thí dụ Putievsky (1983) đã tìm thấy, dưới những điều kiện, có kiểm
soát, sự ra hoa và trưởng thành của ba loại cây thuộc họ hoa tán tăng
theo độ dài của ngày từ 10 đến 16 giờ (bằng cách để đèn thêm khi hết
ánh sáng ban ngày). Skrrubis và Markakis (1976) cũng nhận thấy một kết
quả tương tự khi khảo sát trên cây húng quế, trường hợp ngoại lệ cuả
quy tắc này là cây Mentha piperita có một ngưỡng đọ dài của ngày rõ rệt
vào khoảng 14 giờ, dưới ngưỡng này thì sự sản xuất bị giảm lại, hàm
lượng và chất lượng của tinh dầu kém đi.
D – Thời điểm thu hái Thời điểm thu hái nguyên liệu cũng có
ảnh hưởng quan trọng trên hàm lượng và chất lượng của tinh dầu. Thời
điểm được chọn tùy theo độ tuổi của cây, độ chín của nguyên liệu và giờ
thu hái trong ngày.
Với những cây có chu kỳ thu hái ngắn cần phải khảo sát hàm lượng
tinh dầu trong nguyên liệu theo độ tuổi sẽ đạt được cực đại, sau đó
giảm đi. Nếu có điều kiện nên theo dõi về cả hai chất lượng tinh dầu.
Thời điểm thu hái trong ngày thường là lúc cường độ ánh sáng bắt đầu cao nhất (thường là lúc 10-11 giờ sáng).
Đối với cây có độ chín dài hơn (đơn vị tính là năm, tháng) thì thời
điểm thu hoạch tính theo năm hoặc tháng và cũng nên khảo sát chi tiết
như trên để tìm một điểm hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu lên đến
mức cao nhất, vì nếu để lâu hơn nữa sự thu hoạch sẽ không kinh tế.
Trong trường hợp này thì thời điểm thu hái trong ngày sẽ trở nên không
qua trọng, nhưng cũng không nên thu hái nguyên liệu vào lúc ban ngày.
Tóm lại, khi khảo sát một cây tinh dầu, trong những điều kiện có
thể chúng ta nên khảo sát tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hàm
lượng và chất lượng của tinh dầu của cây này, để có thể biết được thời
điểm thu hoạch nào là tối ưu, có nghĩa là lúc đó hàm lượng tinh dầu
được cao nhất với chất lượng đạt giá trị thương mại.
|
|
Các tin liên quan |
|
Tư Vấn Tinh Dầu |
Mỹ Phẩm Làm Đẹp |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|